HOME
Tin Quê Nhà
 
Việt Nam ưu tiên tăng trưởng kinh tế hơn cải cách chính trị
 




Hà Nội trang trí trên đường phố kỷ niệm 87 năm ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam. Ảnh chụp hôm 25 tháng 1 năm 2017. AFP photo


(RFA): Tại hội thảo quốc tế “Quản trị kinh tế hướng tới một nhà nước kiến tạo” vừa được tổ chức vào ngày 13/6/2017 tại Hà Nội, đại diện chính phủ Việt Nam nói rằng đặc trưng của nhà nước kiến tạo Việt Nam là ưu tiên tăng trưởng kinh tế hơn cải cách chính trị.
Theo đuổi mục tiêu “nhà nước kiến tạo”
Khái niệm “nhà nước kiến tạo phát triển” được nhà nghiên cứu Chalmers Ashby Johnson đưa ra từ những năm đầu thập niên 80 của thế kỷ trước khi nhà nghiên cứu này ghi nhận sự phát triển thần kỳ ở đất nước Mặt Trời Mọc, với vai trò rất quan trọng của Nhà nước Nhật Bản. Khái niệm “nhà nước kiến tạo phát triển” du nhập vào Việt Nam qua thông điệp đầu năm 2014 của cựu Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, với chủ trương của Chính phủ Hà Nội lúc bấy giờ là nhà nước điều hành quản lý về mặt vĩ mô và pháp luật cũng như kiến tạo những cơ hội kinh doanh cho các doanh nghiệp và doanh nhân tại Việt Nam.
Kể từ khi nhậm chức vào cuối tháng 7 năm 2016, tân Thủ tướng Việt Nam Nguyễn Xuân Phúc cũng khẳng định xây dựng Chính phủ kiến tạo phát triển nhằm kiến tạo phát triển cho đất nước. Với mục tiêu của Chính phủ do tân Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc nhắm tới, Tiến sĩ Nguyễn Sĩ Dũng, nguyên Phó Chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội, hồi trung tuần tháng Giêng năm 2017 có một bài phân tích nhà nước kiến tạo phát triển cần phải làm gì. Bài phân tích nêu rõ nhà nước phải tạo ra được hệ thống khuyến khích để các nguồn lực của xã hội được tập trung đầu tư cho các mục tiêu phát triển, đồng thời nhà nước tạo ra khuôn khổ thể chế và mọi điều kiện cần thiết để từng người dân có thể dễ dàng làm ăn và mưu cầu hạnh phúc. Tiến sĩ Nguyễn Sĩ Dũng cho rằng vai trò của Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo và Quốc hội Việt Nam cần thực hiện những yêu cầu như thế của một nhà nước kiến tạo phát triển.
Từ Sàigòn, nhà quan sát tình hình Việt Nam-Tiến sĩ Kinh tế Phạm Chí Dũng nêu lên quan điểm của ông liên quan đến chính sách “nhà nước kiến tạo phát triển” mà Chính phủ Việt Nam đang thực hiện: “Cải cách kinh tế đương nhiên phải dẫn tới một số cải cách thể chế, trong đó có những cải cách mang tính chất chính trị. Đặc biệt đối với một nhà nước độc đảng thì càng phải cải cách về mặt chính trị. Chuyện họ nói cải cách chính trị từ từ, thật ra họ đã từ từ 30 năm rồi. Đã quá lâu! Và bây giờ vẫn từ từ. Nhưng thật ra thực tế về kinh tế và những tiềm năng khủng hoảng kinh tế không chờ họ. Và Hội nghị Trung ương 5 vào tháng 5 vừa rồi thì lại một lần nữa Trung ương Đảng đưa ra Nghị quyết về Hoàn thiện nền Kinh tế Thị trường Định hướng Xã hội Chủ nghĩa, vẫn tiếp tục ‘cái đuôi: Xã hội Chủ nghĩa’. Như vậy bây giờ nếu không cải cách chính trị, có nghĩa không cắt đuôi ‘Định hướng Xã hội Chủ nghĩa’ thì làm sao có được một nền kinh tế thị trường đầy đủ theo quy chế thị trường?”
Tiến sĩ Phạm Chí Dũng lập luận chủ trương của Chính phủ Hà Nội ưu tiên tăng trưởng kinh tế hơn cải cách chính trị là một sai lầm nghiêm trọng vì thế giới chỉ chấp nhận cơ chế kinh tế thị trường. Ông Phạm Chí Dũng trưng dẫn các tổ chức quốc tế như Ngân hàng Thế giới, Quỹ tiền tệ Quốc tế, Ngân hàng Phát triển Á Châu kể cả Nhật Bản cho vay hay cho tín dụng không hoàn lại đối với Việt Nam đều không chấp nhận chính sách kinh tế thị trường mà gắn kết “Định hướng Xã hội Chủ nghĩa” của Việt Nam.
Từ góc độ bên ngoài nhìn vào bối cảnh kinh tế chính trị hiện thời của Việt Nam, Chuyên gia Kinh tế Nguyễn Xuân Nghĩa nhận định điều tiên quyết Hà Nội cần phải làm là phải giải quyết vấn đề chính trị thì sẽ dẫn theo thay đổi về kinh tế. Từ Hoa Kỳ, ông Nguyễn Xuân Nghĩa lên tiếng: “Giải quyết vấn đề chính trị trước tiên hết. Tức là làm sao chấp nhận chuyện giới hạn vai trò của đảng. Thứ hai là mở rộng vai trò của Quốc hội, ít nhất trong hoàn cảnh hiện nay, chưa nói đến một tương lai nào đó mờ mịt mà người dân được phép bầu Quốc hội một cách tự do và thông thoáng.
Giải quyết được chuyện đó thì mới giải quyết được vấn đề kinh tế, vì kinh tế thị trường phát triển một cách lệch lạc nào đó, thì nó gây ra những tai họa ở nơi này nơi kia, ở Việt Nam, ở Trung Quốc, tại Hoa Kỳ, chính là do hệ thống chính trị. Nếu không giải quyết hệ thống chính trị và không phá vỡ được đặc quyền của một thiểu số ở trên cùng thì chúng ta sẽ không có kinh tế thị trường.”
Ẩn số của lộ trình thực hiện
Kể từ khi Việt Nam thực hiện chính sách mở cửa và thay đổi nền kinh tế quốc doanh sang kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa vào đầu thập niên 1990 cho đến nay, nợ công của Việt Nam tiến sát ngưỡng 65% Tổng Sản phẩm Quốc nội (GDP), trong khi doanh nghiệp nhà nước hoạt động kinh doanh không hiệu quả với nhiều dự án thua lỗ nặng nề. Mặc dù vậy, Đảng Cộng sản Việt Nam đến giờ vẫn kiên định vai trò chủ đạo của doanh nghiệp nhà nước trong phát triển kinh tế.
Các nhà lý luận cộng sản ở trong nước cũng thừa nhận mô hình “Kinh tế Thị trường Định hướng Xã hội Chủ nghĩa” là không tồn tại. Do đó, các nhà lý luận về kinh tế cho rằng Nhà nước Việt Nam cần thay đổi thể chế thì nền kinh tế Việt Nam mới có thể vận hành theo đúng quy luật của nó và đó cũng là tiền đề và yếu tố trọng tâm để quốc gia phát triển.
Theo Tiến sĩ Phạm Quý Thọ, chuyên gia về chính sách thuộc Bộ Kế Hoạch và Đầu tư thì tại Hội nghị Trung ương 5 diễn ra vào hồi đầu tháng 5 vừa qua, vấn đề cải cách thể chế phải được đặt ra một cách quyết liệt hơn. Thế nhưng, điều này đã không xảy ra: “Người ta không thể thay đổi một cách đột ngột được. Cái này nó đụng chạm vào rất nhiều vấn đề, đặc biệt là vấn đề về sự tồn vong của chế độ.”
Chủ trương của chính phủ Hà Nội là xây dựng một chính phủ kiến tạo phát triển, tuy nhiên lộ trình hoạch định để đạt được mục tiêu đề ra vẫn còn là ẩn số. Tiến sĩ Nguyễn Đình Cung, Viện trưởng Viện Nghiên cứu Quản lý Kinh tế Trung ương (CIEM) phát biểu tại buổi Hội thảo ở Hà Nội hôm 13 tháng 6 rằng ai cũng nói đến nhà nước kiến tạo nhưng không ai làm.
Hòa Ái, phóng viên RFA
2017-06-16

--------------------
Formosa ‘được’ chất vấn trong giới hạn

 




Người dân biểu tình phản đối Formosa tại Hà Nội ngày 1 tháng 5 năm 2016. AFP Photo


(RFA): Những vấn đề tồn đọng của Formosa cũng như những trăn trở của người dân về vấn nạn ô nhiễm biển có được trình bày một cách thoả đáng trong phiên chất vấn kéo dài ba ngày của kỳ họp thứ 3 Quốc hội khoá 14 hay không?
Không phải là một chủ đề
Trước khi bắt đầu đi vào ba ngày của phiên chất vấn, từ ngày 13 đến 15 tháng 6, báo chí trong nước loan tin cho biết Formosa và môi trường biển là những nội dung sẽ được các đại biểu chú trọng quan tâm. Đặc biệt, Đại biểu Trương Trọng Nghĩa, TP Saigon trả lời phóng viên trong nước cho biết ông sẽ tập trung vào việc công ty này đã sửa chữa, khắc phục các lỗi vi phạm xong chưa. Bên cạnh đó, vấn đề căn bản nhất và quan trọng hơn, theo ông là môi trường biển đã khôi phục được chưa hay khôi phục được bao nhiêu, sau đó là vấn đề bồi thường cho ngư dân bị ảnh hưởng.
Tuy nhiên, qua những bài tường thuật khá chi tiết của báo chí trong nước về các câu hỏi của đại biểu quốc hội và phần trả lời của các Bộ trưởng, Phó Thủ tướng ba ngày qua, có thể thấy rằng vấn đề Formosa và ô nhiễm biển miền Trung chưa được quan tâm đến như dự báo của các đại biểu quốc hội. Chúng tôi đặt vấn đề này với Luật sư Trần Quốc Thuận, nguyên Phó chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội, ông đồng tình với sự việc rất ít đại biểu quốc hội đề cập một cách trực tiếp vấn nạn Formosa. Và theo ông, nguyên nhân là do Formosa không phải là một chủ đề chính và duy nhất trong rất nhiều vấn đề đã được đặt ra. “Nhưng vấn đề Formosa cũng có một số đại biểu quốc hội được đưa ra, đặt vấn đề. Trong đó có một câu hỏi chất vấn đơn giản thôi, đó là sự an toàn đối với các loài sinh vật biển ở đáy biển chưa được an toàn. Sau đó câu trả lời cũng không có vấn đề gì. Còn chuyện bồi thường cũng đang được tiến hành. Người ta có qui định là đến ngày 30 tháng 6 là kết thúc bồi thường của đợt này.”
Trong suốt ba ngày làm việc của phiên chất vấn, theo quan sát từ những chương trình trực tuyến của Quốc hội, chúng tôi ghi nhận chỉ có một đại biểu là ông Đào Thanh Hải, đại biểu Tp Hà Nội đặt câu hỏi với Phó Thủ tướng Trương Hoà Bình, vào chiều ngày 15 tháng 6. “Vụ việc công ty Formosa gây ô nhiễm cho biển khu vực miền Trung đã gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến việc phát triển kinh tế xã hội của đất nước và gây bất ổn khu vực miền Trung trong thời gian vừa qua. Hiện nay nhiều cử tri vẫn đang rất băn khoăn về mức độ ô nhiễm của môi trường biển miền Trung. Xin đồng chí Phó thủ tướng thường trực cho biết môi trường biển các tỉnh miền Trung đã được phục hồi hoàn toàn chưa? Và nếu như biển miền Trung đã sạch thì tại sao chính phủ lại khuyến cáo người dân không đánh bắt cá tầng đáy? Và hiện nay cử tri đang rất lo ngại nhà máy Formosa sắp tới sẽ đưa vào vận hành, liệu khi đó có bảo đảm an toàn tuyệt đối cho môi trường biển miền Trung hay không? Đề nghị đồng chí cho biết chính phủ sẽ có giải pháp biện pháp gì trong việc kiểm soát không để tái diễn.”
Theo Luật sư Trần Quốc Thuận, Phó Thủ tướng Trương Hòa Bình đã không trả lời trực tiếp câu hỏi liên quan đến Formosa. Do đó, một lần nữa, ông khẳng định Formosa không phải là một “chủ đề’. “Họ được xem như vấn đề đó được tạm gác sang một bên, giờ đã chuyển sang vận hành của nhà máy và người ta đang tiến hành bồi thường.”



Ông Chen Yuan Cheng, chủ tịch Formosa Hà Tĩnh xin lỗi người dân trong một cuộc họp báo công bố nguyên nhân cá chết tại Hà Nội ngày 30 tháng 6 năm 2016. AFP Photo


Lý do cụ thể
Luật sư Trần Quốc Thuận có chia sẻ thêm một ý kiến mà ông cho rằng là lý do Formosa đã không được đưa ra giải trình một cách thẳng thắn trong kỳ họp quốc hội kỳ này. “Một cách khách quan để nói thì Formosa trong các kỳ họp trước đã được đặt ra. Sau này, sau khi kiểm tra thì thấy các chất độc đó cơ bản đã giảm hẳn đi, cá biển, sinh hoạt tắm biển vẫn bình thường. Vấn đề còn lại chỉ là hai vấn đề lớn, theo dõi coi Formosa có tái gây ô nhiễm hay không? Nếu như tái gây ô nhiễm thì như Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc đã nói, là sẽ đóng cửa. Rồi vừa qua thì có vụ nổ thì do kỹ thuật, không ảnh hưởng đến môi trường. Vấn đề đang diễn ra là bồi thường. Họ cũng đã bồi thường một số tiền tương đối kha khá.”
Ngày 14 tháng 6, phó thủ tướng thường trực Trương Hòa Bình ra chỉ thị yêu cầu các địa phương phải đẩy nhanh tiến độ kê khai, xác định và chi trả bồi thường thiệt hại, bảo đảm hoàn thành trước ngày 30 tháng 6 tới đây. Cũng theo chính phủ, 7,000 tỷ đồng là số tiền đã tạm cấp để bồi thường cho nạn nhân Formosa ở 4 tỉnh miền Trung trong thời gian vừa qua, bao gồm Hà Tỉnh, Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên Huế. Tuy vậy, Giáo sư Tương Lai, nguyên Phó Viện trưởng Viện Xã hội học Việt Nam không đồng ý và cho rằng tiến trình đền bù, bồi thường thiệt hại cho người dân vẫn còn nhiều đều bất cập, không minh bạch và không đúng qui trình: “Cái việc nhận số tiền 500 triệu USD bồi thường trong khi chưa thống kê đầy đủ các thiệt hại của người dân về vật chất, tinh thần, về sức khoẻ cũng như chưa điều tra thống kê các tổn thất về du lịch biển cũng như các chi phí cho việc tẩy dịch môi trường, khôi phục sinh thái vùng đáy biển… Thì phải nói đây là một việc làm tuỳ tiện và bây giờ báo chí vẫn ra rả nói về phân phối số tiền này.”
Thời gian vừa qua, những ghi nhận từ người dân mà đài chúng tôi thu thập được cho thấy sự bồi thường thiệt hại cho người dân chưa thoả đáng. Một phụ nữ tên Hiếu, sống ở xã Hải Ninh, huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình, chia sẻ với phóng viên đài chúng tôi cho biết từ khi xảy ra thảm hoạ ô nhiễm từ tháng 4 năm 2016 đến nay, gia đình của bà thua lỗ vì nuôi cá không được, bán không ai dám mua: “Còn đền bù thì có đền bù gì đâu ngoài chuyện hỗ trợ sáu tháng ăn. Biển chết mấy chục năm mà đền bù cho ngư dân, người nuôi cá sáu tháng ăn thì sống như thế nào đây?”
Một cán bộ thương nghiệp không muốn nêu tên bày tỏ sự bất bình: “Cuối cùng mấy chục năm sau họ sống bằng gì? Làm gì để sống thì các ông không nói đến. Lẽ ra các ông phải bàn về biển, phải yêu cầu Formosa làm sạch môi trường biển trước, sau đó yêu cầu đền bù cho các hộ dân…”.
Tuy nhiên, Phó Giáo sư, Tiến sĩ khoa học Nguyễn Tác An, nguyên Viện trưởng viện Hải dương học Nha Trang từng khẳng định việc ngừng xả thải để nâng cao thiết bị xử lý cũng không thể hoàn trả lại biển sạch cho môi trường: “Tác động môi trường của ô nhiễm công nghiệp là mang tính tích luỹ, cũng như con người đã ăn những chất độc hại trong người thì dù không ăn nữa, chất độc hại đó vẫn tác động. Dù Formosa có thải tiếp tục hay không thải tiếp tục thì tác động vẫn rất lâu dài.”
Ông khẳng định để ngư dân trở lại ngư trường như trước đây là không thể, phải có thời gian. Giáo sư Tương Lai đồng ý với điều này khi cho rằng sư nguy hại đó không thể giải quyết trong một thời gian ngắn: “Cái hậu quả và cái di chứng kéo dài ít nhất là hàng chục năm cho đến nửa thế kỷ nữa sẽ rất khó hồi phục.”
Chính vì thế, vài ngày trước khi diễn ra phiên chất vấn, Giáo sư Tương Lai có đặt ra câu hỏi rằng liệu có dám chất vấn điều này không? Vì theo ông, chất vấn điều này chính là “tử huyệt của Nguyễn Phú Trọng và Đảng cầm quyền.”. Sau ba ngày diễn ra phiên chất vấn của kỳ họp thứ 3 Quốc hội khoá 14, câu hỏi của Giáo sư Tương Lai đã có câu trả lời.
Cát Linh, phóng viên RFA
2017-06-16

--------------------
Việt Nam - Nam Hàn, cái bóng của quá khứ

 




Lực lượng viễn chinh của Nam Hàn đến Việt Nam tháng 3 năm 1965. AFP photo


(RFA): Ngày 6 tháng Sáu năm 2017, Tổng thống Nam Hàn Moon Jae-in vinh danh những người lính Nam Hàn đã tham gia chiến tranh Việt Nam bên cạnh lực lượng Mỹ và Việt Nam Cộng Hòa. Việc vinh danh này đã gây ra phản ứng không hài lòng từ phía Việt Nam. Tuy nhiên sau đó hai bên đều khẳng định tầm quan trọng của quan hệ hai nước và, ngày 15 tháng Sáu, bà Lê Thị Thu Hằng phát ngôn nhân Bộ Ngoại giao Việt Nam nói rằng lãnh đạo hai nước đã nhận thức được chuyện gác lại quá khứ và hướng về tương lai.
50 ngàn quân tham chiến tại Việt Nam
Theo các số liệu từ các trang mạng của chính phủ Việt Nam đến các trang mạng của người Việt tại hải ngoại, lực lượng Nam Hàn (còn gọi là Nam Triều Tiên trước đây) tham chiến tại Việt Nam trong khoảng thời gian từ năm 1965 đến năm 1972, gồm 50 ngàn quân với hai sư đoàn bộ binh là Mãnh Hổ, Bạch Mã, và một lữ đoàn thủy quân lục chiến Thanh Long. Lực lượng này đóng quân dọc duyên hải miền Trung từ Quảng Nam cho đến Nha Trang.
Theo trang Việt báo tại hải ngoại thì những người lính Nam Hàn là những chiến binh rất can đảm, có khả năng thuyết phục dân chúng Việt Nam kêu gọi các du kích cộng sản đầu hàng. Theo trang Báo Quảng Ngãi của chính phủ Việt Nam thì lính Nam Hàn là những người rất hung hãn, đã gây nên nhiều cuộc thảm sát dân thường tại miền Trung Việt Nam, nhất là tại tỉnh Quảng Ngãi. Báo mạng Vnexpress của Việt Nam, trong bản tin ngày 15 tháng Sáu có trích lời một nhà sử học người Nam Hàn nói rằng lực lượng Nam Triều Tiên đã thảm sát 9 ngàn dân thường Việt Nam trong chiến tranh Việt Nam.
Theo nhà báo tự do Võ Văn Tạo, vào năm 1992, ông có hướng dẫn một đoàn cựu chiến binh Nam Hàn thăm lại các căn cứ quân sự của họ tại tỉnh Bình Định. Ông kể lại câu chuyện sau đây: “Có mấy người lục trong túi ra đưa cho tôi xem mấy cái ảnh chụp hồi đi lính sang Việt Nam, hình trắng đen cỡ 9x12, ngồi trong công sự, đội nón sắt, xung quanh là bao cát, cầm khẩu trung liên theo kiểu thanh niên ấy. Rồi có một ông nói rằng thông cảm nhé, hồi đó Nam Hàn nghèo quá, phải đi đánh thuê lấy tiền thôi chứ không có thù hận gì với Việt Nam hết. Ông đấy nói thật lòng như thế, tôi cho đó là một lời nói thật.”
Nhà báo Võ Văn Tạo nói rằng liên minh quân sự thời chiến tranh Việt Nam giữa Nam Hàn và Hoa Kỳ đã đem về cho Seoul một khoản ngoại tệ lớn, cũng như là một số tiền không nhỏ cho các binh sĩ tham gia cuộc chiến. Theo số liệu của viện ASAN nghiên cứu về châu Á của Nam Hàn, thì số tiền mà Seoul thu được trong những năm từ 1966 đến 1969 chiếm từ 7 đến 8% tổng sản lượng quốc dân của quốc gia này trong thời gian đó.


Những người lính Bắc Việt bị bắt làm tù binh trong chiến tranh Việt Nam. Ảnh chụp tại một làng, tháng 3/1965. AFP photo


Rắc rối ngoại giao và quan hệ kinh tế ngày càng lớn
Nhận xét về phản ứng không hài lòng của Việt Nam sau tuyên bố của tân Tổng thống Nam Hàn, ông Moon Jae-in vào ngày 6 tháng 6 năm 2017, vinh danh những người lính Nam Hàn tham chiến tại Việt Nam, Tiến sĩ Trần Công Trục nguyên trưởng ban biên giới, thuộc Bộ ngoại giao của chính phủ Việt Nam cho rằng: “Tôi nghĩ rằng phản ứng của phía Việt Nam có nghĩa rằng việc những người lính Nam Hàn qua đây gây ra những tội ác đối với nhân dân Việt Nam trong thời kỳ chiến tranh Việt Nam không thể gọi là những điều được tôn vinh được, bởi vì quan điểm của người Việt Nam, những người chịu những cuộc tàn sát đó, không chấp nhận những người lính đó được vinh danh được.”
Ông Võ Văn Tạo, quê tại Quảng Ngãi, từng tham chiến trong hàng ngũ quân đội nhân dân Việt Nam trong chiến tranh Việt Nam, nhận xét với chúng tôi về thái độ hiện nay của dân chúng vùng Quảng Ngãi về sự có mặt của quân đội Nam Hàn trong quá khứ: “Nó cũng có nhiều cung bậc, phần lớn, kể cả người già, cho rằng chuyện đã qua rồi không vương vấn gì nữa, cũng còn một số người vẫn nhớ đến và vẫn cay, tức tối với chuyện đó. Còn đa phần thế hệ trẻ thì không biết.”
Khi được đặt câu hỏi về lời vinh danh của tân tổng thống Nam Hàn vào ngày 6 tháng Sáu vừa qua đối với các cựu binh từng tham gia chiến tranh Việt Nam, ông Tạo cho rằng đó là một điều rất tự nhiên: “Đất nước Nam Hàn có cất đầu lên được cũng nhờ những người đó. Đấy là ông ấy phát biểu cảm ơn họ thì cũng là một tình cảm tự nhiên, đứng về góc độ của họ cũng là rất hợp lý. Mà phía Việt Nam phản ứng căng quá thì không nên. Nếu có hiểu biết kỹ về lịch sử Nam Hàn, về giai đoạn đó, trên một quan điểm là vị tha và hòa hiếu, thì không nên nổi giận về chuyện này.”
Ông Võ Văn Tạo cũng nói là có thể do quan điểm chính trị vẫn còn có sự khác biệt nên Việt Nam mới có những phản ứng như vậy. Ông trích dẫn một diễn văn của Tổng thống Hoa Kỳ Obama, được ông coi là người thân Việt Nam, trong đó ông Obama có ca ngợi những người lính Mỹ đã ngã xuống tại trận đánh Khe Sanh khốc liệt trong chiến tranh Việt Nam. Bài diễn văn ông Tạo nói đến là bài diễn văn nhậm chức nhiệm kỳ thứ nhất của tổng thống Obama vào tháng Giêng năm 2009, đã được báo chí Việt Nam dịch sang tiếng Việt nhưng lược bỏ phần nói về những người lính Mỹ.
Hiện nay theo số liệu từ báo Việt Nam Vneconomy, Nam Hàn là nhà đầu tư lớn nhất tại Việt Nam. Theo Tiến sĩ Lê Đăng Doanh, một chuyên gia kinh tế sống ở Hà Nội thì hầu như toàn bộ sản phẩm điện thoại thông minh của hãng Samsung Nam Hàn đang được làm ở Việt Nam, và hãng này đang sử dụng đến 1,000 kỹ sư tin học của Việt Nam. Ngoài sự phát triển quan hệ kinh tế, theo báo chí Nam Hàn, nhiều tổ chức dân sự Nam Hàn đã thực hiện những công việc nhân đạo tại các vùng mà binh lính Nam Hàn tham chiến trước đây như một nỗ lực hàn gắn những vết thương chiến tranh. Điển hình nhất là tổ chức Tôi và Chúng Ta. Tổ chức này đã đến nơi mà lữ đoàn Thanh Long của Nam Hàn trước đây tại Quảng Nam đã gây ra một cuộc thảm sát dân thường để xây cầu và đường sá.
Sau những phát biểu của thứ trưởng bộ ngoại giao Nam Hàn vào ngày 14 tháng Sáu, và của người phát ngôn bộ ngoại giao Việt Nam vào ngày 15 tháng Sáu, Tiến sĩ Trần Công Trục nói rằng đó là một định hướng đúng đắn, và Nam Hàn là một quốc gia phát triển rất tốt tại châu Á có nhiều kinh nghiệm mà Việt Nam cần phát triển tốt mối quan hệ. Ông Võ Văn Tạo thì cho rằng hai nước cùng là nạn nhân của chiến tranh nên Việt Nam và Nam Hàn có nhiều điểm tương đồng.
Kính Hòa, phóng viên RFA
2017-06-16

--------------------
Trưng thu tài nguyên

 




Sân Golf bên trong sân bay Tân Sơn Nhất. Courtesy Zing


(RFA): Tại Việt Nam, một đề tài đang làm cả nước tranh luận, từ các cơ quan của Chính phủ qua Quốc hội và Quân đội. Đó là yêu cầu nâng cấp phi trường quốc tế Tân Sơn Nhất có thể đòi hỏi việc lấy lại sân golf 36 lỗ nằm trong sân bay. Diễn đàn Kinh tế tìm hiểu chuyện này từ giác độ kinh tế chính trị học…

Sử dụng tài nguyên quốc gia cho việc công ích
Nguyên Lam:
Ban Việt ngữ đài Á Châu Tự Do và Nguyên Lam xin kính chào chuyên gia kinh tế Nguyễn-Xuân Nghĩa. Thưa ông, trong nước đang tranh luận về việc có nên thu hồi sân golf hay sân cù Tân Sơn Nhất để nâng cấp phi trường quốc tế Tân Sơn Nhất hay không? Diễn đàn Kinh tế xin hỏi ông về chuyện đó, nhìn từ giác độ kinh tế chính trị học. Ông nghĩ sao?
Nguyễn-Xuân Nghĩa: Dù tránh nói về mình, bản thân tôi đã gắn bó với Tân Sơn Nhất từ thời niên thiếu vì sống tại đó khi thân phụ là kỹ sư công chánh thuộc Nha Căn Cứ Hàng Không đã góp phần xây dựng các phi đạo của phi trường từ năm 1960 trở về sau, khiến Tân Sơn Nhất là phi trường hạng A là loại tân tiến của Đông Nam Á từ 1963 có thể nhận các máy bay dân sự lớn nhất thời đó. Rồi tôi cũng thấy sự xuống cấp của Tân Sơn Nhất, từ phi đạo đến phi cảng, sau 1975… Nhìn ra ngoài, ta không quên, nưóc Pháp tân tiến hơn đã có hai phi trường phục vụ thủ đô là Paris-Orly và Paris-Bourget, cho tới khi mất 10 năm xây dựng phi trường hiện đại là Roissy-Charles de Gaulle tại ngoại ô Đông-Bắc. Khi phi trường có kiến trúc hoa mỹ đó vừa hoạt động năm 1974 thì người ta thấy là nó không đạt yêu cầu nên phải mở rộng và nâng cấp. Vì vậy, chúng ta không nên ngạc nhiên khi cần nâng cấp Tân Sơn Nhất hoặc mở ra phi cảng Long Thành cho sau này. Tuy nhiên, từ giác độ kinh tế, mà kinh tế cũng là chính trị, có lẽ ta nên nhìn vào một khía cạnh khác, đó là việc sử dụng tài nguyên quốc gia cho việc công ích.
Nguyên Lam: Có lẽ thính giả của chúng ta cũng đã quen với cách đặt vấn đề khá bất ngờ của ông, nhưng Nguyên Lam vẫn xin ông giải thích cho vì sao vấn đề lại là “việc sử dụng tài nguyên quốc gia cho việc công ích”?
Nguyễn-Xuân Nghĩa: Khi giới hữu trách Hà Nội đang tìm hiểu, thảo luận và quyết định về nhu cầu giải phóng mặt bằng hay giãn dân để lấy đất phát triển các cơ sở có tiếng là phục vụ yêu cầu công ích như trong dự án Tân Sơn Nhất tại miền Nam thì tôi lại nghĩ đến Mỹ Đức hay Đồng Tâm tại Hà Nội và biết bao tranh chấp, khiếu kiện và oán than về đất đai trên cả nước.
Việc ước tính nhu cầu tiếp đón hành khách tại một sân bay trong một thế giới đổi thay quá mau có thể khiến giới chuyên gia kỹ thuật phải duyệt xét lại, là điều xảy ra cho nhiều xứ khác, như Roissy-Charles de Gaulle của Pháp hay Big-D là phi trường Dallas-Forworth của Mỹ tại tiểu bang Texas, vốn hình thành cùng lúc. Nhu cầu mở mang và nâng cấp nhanh hơn dự tính là điều khá bình thường. Tuy nhiên, là chuyên gia kinh tế, tôi có cái nhìn bi quan về việc sử dụng hay phân phối tài nguyên quốc gia cho yêu cầu chung và chế độ dân chủ hay độc tài đều có cách tính toán như nhau, mà giải quyết khác nhau, với kết quả cũng khác cho người dân.
Nguyên Lam: Thưa quý thính giả, có lẽ ông Nguyễn Xuân Nghĩa đang đi vào chủ đề của tiết mục kinh tế kỳ này. Thưa ông, Nguyên Lam xin đề nghị ông giải thích cho nhận định vừa rồi, rằng trong việc phân phối tài nguyên quốc gia cho yêu cầu chung của xã hội, cả hai chế độ dân chủ và độc tài đều tính toán như nhau, nhưng giải quyết khác nhau, với kết quả cũng khác cho người dân. Thưa ông, chuyện ấy là gì vậy?
Nguyễn-Xuân Nghĩa: Trong một chế độ dân chủ, người dân có quyền tự do bầu lên đại biểu thay họ giải quyết việc nước nhưng trên cơ sở của hệ thống luật lệ cũng do giới dân cử hay các đại biểu của dân đề ra. Tiến trình chọn người, soạn luật và áp dụng được công khai hóa. Dù vậy, giới dân cử trong chính quyền vẫn phải nghĩ đến việc duy trì quyền lực, nôm na là tái đắc cử, nên vì thế, quyết định sung dụng tài nguyên quốc gia có thể nhắm vào việc ban phát lợi ích cho thành phần cử tri của họ. Chẳng hạn, cuộc tranh luận về chính sách thuế vụ có thể là biểu hiện của lối tính toán đó, như lấy của thiểu số giàu có ban phát cho đa số dân nghèo, miễn sao thuế suất quá cao không giết luôn con gà đẻ trứng vàng là làm giới có tiền hết muốn đầu tư khiến kinh tế sa sút và số thu về thuế khóa bị giảm. Tuy nhiên, lối tính toán xin tạm gọi là “lấy của nhà giàu chia cho dân nghèo” vẫn bị sự phán đoán của thị trường và công chúng, cho nên việc công khai hóa hệ thống công chi thu quốc gia, nôm na là ngân sách, có thể hạn chế cái nạn này.
Ngược lại, chế độ độc tài không bị quần chúng phán xét nên lãnh đạo có ý trưng thu tối đa, cũng để ban phát quyền lợi cho phe đảng của mình ở bên trong và thường gây khủng hoảng vì nạn bội chi ngân sách, là chi nhiều hơn thu. Xưa nay, sưu cao thuế nặng vẫn làm giảm nỗ lực sản xuất với hậu quả chung là mọi người đều nghèo đi. Đây là chưa nói đến khả năng chuyên môn của bộ máy thuế vụ, khi chế độ độc tài có quyền hạn rất rộng trên mọi lĩnh vực mà rất nông vì không thấm nhập vào sinh hoạt kinh tế của người dân. Người bất đồng về chính trị thì bị cầm tù chứ trốn thuế là hiện tượng phổ biến khiến ai cũng thấy là mình bị bóc lột và tìm cách lách thuế với sự tham dự của công nhân viên nhà nước. Đấy là lúc ta nên nhìn qua lĩnh vực kia của việc sung dụng tài nguyên quốc gia với nguồn tài nguyên tiêu biểu là đất đai.


Cổng vào sân golf Tân Sơn Nhất. Courtesy Thanh Niên


Lấy công sản phục vụ tư lợi
Nguyên Lam:
Ông đang đi vào chuyện sân golf Tân Sơn Nhất và các vụ cướp đất đang gây phẫn nộ tại Việt Nam, và có lẽ tại Trung Quốc nữa. Xin ông giải thích thêm ý kiến đó….
Nguyễn-Xuân Nghĩa: Không chỉ có Trung Quốc hay Việt Nam mà mọi chế độ độc tài đều thấy lãnh đạo lấy công sản phục vụ tư lợi nên họ có dinh cơ nguy nga trên đất đai vốn là tài sản của toàn dân. Việt Nam định chế hóa việc trưng thu đó ngay từ Hiến pháp khi quy định rằng “đất đai thuộc quyền sở hữu của toàn dân”, nhưng lại “do nhà nước thống nhất quản lý”. Việc quản lý ấy quả là thống nhất từ đảng lãnh đạo tới nhà nước cầm quyền và tay chân chia chác trước sự nín lặng của người dân nhân danh nào hiện đại hóa, đô thị hóa hay phát triển hạ tầng cơ sở. Khi cán bộ nhà nước cướp đất của dân hoặc mua quyền sử dụng đất của nông dân với giá bèo rồi nâng cấp thành đất công nghiệp, hoặc chia cho dự án làm sân cù thì chúng ta có hiện tượng trái ngược với chủ trương xây dựng xã hội chủ nghĩa của Hà Nội, vì là “lấy của người nghèo trao cho nhà giàu”. Hiện tượng ấy có xảy ra trong chế độ dân chủ nhưng khó hơn vì mọi việc đều được công khai hóa và giới dân cử có tà ý “dĩ công vi tư” thì sẽ thất cử nhờ báo chí. Trong chế độ độc tài, việc lấy của người nghèo trao cho nhà giàu là quy luật phổ biến, cho tới khi có thanh trừng nội bộ vì chia chác quyền lợi không đều thì dân mới biết.
Nguyên Lam: Theo như Nguyên Lam hiểu ý bi quan của ông thì trong mọi chế độ chính trị, dù dân chủ hay độc tài, nhà cầm quyền đều có hướng trưng thu tài nguyên công cộng cho nhu cầu tư lợi. Trong chế độ dân chủ, việc trưng thu đó nhắm vào mục tiêu phân phối quyền lợi cho thành phần cử tri của mình, nhưng bị hạn chế vì luật pháp công minh và quyền phán xét của người dân, của đảng đối lập và của báo chí độc lập. Trong một chế độ độc tài thì báo chí là công cụ của lãnh đạo nên chỉ có thể phản ảnh theo lối gián tiếp mà người viết không bị kỷ luật, đối lập thì không có quyền hiện hữu, Quốc hội cũng chẳng thể phê phán và dân chúng có bị trưng thu oan ức thì dù khiếu kiện cả chục năm vẫn chưa thấy ở trên cứu xét, trong khi đất đai chung bị đưa vào các dự án sau này người ta mới thấy ra bất lợi về kinh tế và xã hội. Nếu vậy thưa ông, làm sao người ta có thể giải quyết những mâu thuẫn quyền lợi đan kết đó?
Nguyễn-Xuân Nghĩa: Tôi nhớ là từ Tháng 10 năm ngoái, tiết mục chuyên đề của chúng ta đã nói đến một sự thật bẽ bàng rằng “Chính Trị cũng chỉ là Kinh Tế”. Thực tế của kinh tế và chính trị nó khác cái nhìn lý tưởng của chúng ta và nếu hiểu được thực tế đó thì mới tránh được nạn lạm quyền, tham nhũng hay độc tài. Lãnh đạo một phong trào lý tưởng mà không có tiền gây dựng cơ sở, đào tạo cán bộ và quảng bá chủ trương thì chẳng thể có quần chúng. Có quần chúng rồi, khi đấu tranh hay tranh cử, lãnh tụ cần một bộ phận cốt lõi giúp mình thành công và sau khi thành công và nắm quyền thì làm sao để không ai trong bộ phận cốt lõi ấy bước qua bên kia, bên phía đối lập. Do đó, hệ thống chính trị nào cũng cố tìm ra sự ràng buộc mà ràng buộc chặt nhất vẫn là kinh tế. Khả năng diễn giải thực tế phũ phàng thành chủ trương thánh thiện là trách nhiệm của bộ phận cốt lõi đó mà dân trí càng cao thì sự diễn giải nhập nhằng càng khó. Vì vậy, và đây mới là chuyện ta cần chú ý: các lãnh tụ chuyên quyền có thể tồn tại lâu hơn giới lãnh đạo dân chủ vì xứ dân chủ vẫn thường xuyên có bầu cử. Việc bầu cử không có nghĩa là dân chủ, nhưng cho người chủ là dân chúng được phán xét bằng lá phiếu khiến giới dân cử khó lộng quyền mãi mãi.
Thật ra, không cá nhân nào có thể lãnh đạo một mình. Lãnh tụ đầy quyền lực như Chủ tịch Tập Cận Bình của Tầu hay Tổng thống Vladimir Putin của Nga cũng đều cần quần chúng. Quần chúng ấy có thể là người bỏ phiếu, là cử tri đông đảo của một xứ dân chủ, hay đảng viên của chế độ độc tài đảng trị. Nhưng đấy là quần chúng biểu hiện mà chưa hẳn là có thực quyền. Bên trong khối quần chúng đó của chế độ độc tài, một thành phần mới có ảnh hưởng hơn cả, là các Trung ương Ủy viên hay thành phần nòng cốt có quyền lợi gắn bó với lãnh tụ. Lãnh tụ cần họ và họ cần lãnh tụ để bảo vệ quyền lợi riêng. Ở trên, chỉ có vài phần trăm gọi là nòng cốt mới có thực quyền. Trên cùng là Thường vụ Bộ Chính trị hay đại gia của doanh trường, là những kẻ có toàn quyền trưng thu tài nguyên quốc gia, đầu tiên là đất đai hay dầu mỏ ở dưới, để ban phát quyền lợi và củng cố thế lãnh đạo của mình. Vì vậy, chớ ngạc nhiên vì sao mà Việt Nam có nhiều sân golf hay sòng bạc thuộc hạng quốc tế cho nhà báo ngây ngô khâm phục trong khi dân nghèo mất đất và cả nước tranh luận về một sân golf cho phi trường! Nếu muốn giải quyết thật thì nên tách đảng ra khỏi nhà nước và công khai hóa việc nhà nước trưng thu và phân phối tài sản quốc dân cho Quốc hội và báo chí có thực quyền phán xét. Chuyện này thật ra đã thành cấp bách rồi vì người dân Việt Nam ngày nay có nhiều thông tin hơn trước và không cúi đầu nữa.
Nguyên Lam: Ban Việt ngữ đài Á Châu Tự Do và Nguyên Lam xin cảm tạ kinh tế gia Nguyễn-Xuân Nghĩa về bài phân tích này.
Nguyên Lam & Nguyễn Xuân Nghĩa, RFA
2017-06-16

--------------------
Trấn áp vẫn theo chiều hướng gia tăng

 




Công an tỉnh Hà Nam đọc lệnh bắt chị Trần Thị Nga tại Hà Nội ngày 21 tháng 1 năm 2017. citizen

Tình hình trấn áp ngày càng căng thẳng gia tăng
(RFA): Kể từ sau Đại hội lần thứ 12 của Đảng cộng sản Việt Nam, thêm nhiều nhà hoạt động bị bắt giam như blogger Mẹ Nấm- Nguyễn Ngọc Như Quỳnh, nhà hoạt động Trần Thị Nga, anh Hoàng Đức Bình, phóng viên tự do trẻ Nguyễn Văn Hóa… Bên cạnh đó, nhiều nhà hoạt động bị sách nhiễu trong cuộc sống thường ngày, một trong những trường hợp gần đây nhất là Luật sư Lê Quốc Quân bị chặn không cho ra khỏi nhà, sau khi anh đã có cuộc gặp với phái đoàn Thượng nghị sĩ Mỹ tới Hà Nội.
Chia sẻ nhận định về những sự trấn áp sau Đại hội 12, Luật sư Lê Quốc Quân cho rằng, tình trạng này đang gia tăng: “Hàng chục nhà hoạt động đã bị bắt và nhiều việc hành hung, thậm chí như cá nhân tôi từng xảy ra chuyện bị đe dọa hành hung rất côn đồ. Đối với tôi việc này chưa bao giờ xảy ra. Tôi khẳng định tình hình ngày càng căng thẳng và bắt bớ ngày càng gia tăng”.
Anh Nguyễn Chí Tuyến - thành viên nhóm No-U Hà Nội, nạn nhân của một vụ hành hung sau các hoạt động tuần hành năm 2015 đánh giá, sự trấn áp đối với các nhà hoạt động trẻ thực sự đáng quan ngại: “Khi ý thức người dân lên cao thì đương nhiên việc này không dễ chút nào cho những người cai trị, những người cầm quyền. Vốn dĩ họ vẫn hành xử như vậy từ xưa đến nay, do vậy họ vẫn tìm cách để dập tiếng nói đó và họ cố kéo dài tình trạng này.”
Nhiều năm qua, cộng đồng quốc tế và chính phủ nhiều nước đã có sự hối thúc mạnh mẽ đối với chính quyền Việt Nam, buộc họ phải cải thiện hồ sơ nhân quyền, tôn trọng các quyền tự do về chính trị, xã hội của người dân, trong bối cảnh Việt Nam hội nhập sâu, mở rộng ngoại thương. Nhiều nhà hoạt động quan ngại về sự gia tăng đàn áp trong thời gian sắp tới. Luật sư Lê Quốc Quân cho rằng, tính bạo lực sẽ gia tăng khi rơi vào tình trạng tận cùng: “Vì Việt Nam là một nước đang hoà bình và rõ ràng chúng ta phải tận dụng cơ hội hòa bình này để phát triển đất nước. Chúng ta thực hiện một tinh thần ôn hòa, hòa hợp hòa giải dân tộc để phát triển kinh tế. Thay vì đó tôi vẫn thấy có một sự bức xúc và một sự xung đột đang gia tăng dần lên trong xã hội giữa việc sử dụng bạo lực, cường quyền, thậm chí chia rẽ lương-giáo, giữa người hoạt động với người bảo vệ chính quyền. Và tính bạo lực ngày càng gia tăng thì đó là điều rất đáng ngại.”
Tuy nhiên, trong thời gian gần đây, sức ép từ bên ngoài dường như không còn được như kỳ vọng. Luật sư Lê Quốc Quân cho rằng, có sự liên hệ giữa tình hình quốc tế với tình trạng trấn áp trong nước: “Lịch sử trải qua những giai đoạn thăng trầm, tất yếu là có những đoạn lên, đoạn xuống, và những đoạn dẫn đến sự tột cùng của mâu thuẫn. Có thể vào những lúc đó thì sự bạo lực, sự hung hăng sẽ lên ngôi.”
Anh Nguyễn Chí Tuyến cho rằng, vì mục đích duy trì quyền lực độc tôn càng lâu càng tốt, chính quyền sẽ vẫn gia tăng trấn áp: “Họ sẽ nhằm vào bất cứ một người nào, đặc biệt là những người trẻ tuổi có tiếng nói ảnh hưởng nào đó. Họ đều tìm cách cô lập người đó bằng cách bắt bớ, tù đày, hoặc đánh đập, đe dọa, hoặc bao vây kinh tế.”
Bạn trẻ Nguyễn Peng là nạn nhân của việc bắt giữ tuỳ tiện, đánh đập tại Buôn Mê Thuột vừa qua, nhưng bạn vẫn mong muốn lên tiếng cho một đất nước Việt Nam nhân quyền được tôn trọng: “Bản thân tôi không bao giờ chùn bước. Tôi đã bị nhiều lần rồi nên những việc đó đối với tôi rất bình thường.”



Nhà hoạt động Lê Mỹ Hạnh bị đồng bọn của Phan Sơn Tùng đánh đập tại Sàigòn Citizen


Con đường công lý và sự thật
Trong bối cảnh tình hình nhân quyền còn chưa được bảo đảm, các nhà hoạt động bị trấn áp, Luật sư Lê Quốc Quân cho rằng, giới đấu tranh cần kiên định con đường đã chọn: “Cá nhân tôi luôn theo đuổi tinh thần ôn hoà, bất bạo động. Tôi cũng chia sẻ rằng mới đây công an đe dọa tôi, định đánh tôi, nắm cổ áo và dí nắm đấm vào người tôi. Tôi mỉm cười vì tôi thấy rằng sau những hành vi như vậy là những tâm hồn yếu đuối bởi vì nó không có công lý, sự thật. Còn khi chúng ta có công lý, sự thật, có con đường để đi tới, có một mục tiêu để theo đuổi trên cuộc đời này thì chúng ta hãy cứ bình an bước tới, theo đuổi đam mê, dấn thân và phụng sự. Chắc chắn dần dần rồi sẽ có kết quả.”.
Tuy dù chịu nhiều sự trấn áp, các nhà hoạt động vẫn trông đợi một sự thay đổi và cởi mở về mặt chính trị. Luật sư Lê Quốc Quân cho biết: “Để chống lại sự đàn áp mà nhà cầm quyền đang tước đoạt các quyền công dân như vậy thì người dân phải có sự liên kết, chia sẻ và đồng cảm lẫn nhau, để cùng nhau phối hợp, hành động trong những lãnh vực và những khả năng có thể với nhau.”
Anh Nguyễn Chí Tuyến cho rằng, người dân cần hiểu về quyền của mình và thực hành các quyền đó trong thực tế, để làm tăng sức mạnh ý chí của từng cá nhân: “Tôn trọng dân chủ, nhân quyền, thực hành quyền đa nguyên đa đảng, cải cách chính trị là những bước đi tôi nghĩ chính quyền nên lựa chọn và theo đuổi nó một cách nhất quán và mạnh mẽ hơn nữa.”
Còn anh Nguyễn Chí Tuyến thì cho rằng: “Các ông, các bà nên nhớ rằng thời đại đã thay đổi, đừng nên níu kéo quyền lực độc tôn mãi mãi như xưa nữa và cần thay đổi tư duy. Các ông, các bà cần trao lại quyền cho người dân vì người ta mới xây dựng được đất nước.”
Con đường đấu tranh cho dân chủ, nhân quyền tại những quốc gia độc đảng, quân phiệt lâu nay cho thấy đầy chông gai, thử thách và phải trả cả bằng ‘giá máu’ của những người tham gia. Tuy nhiên đó không phải là con đường vô vọng!
RFA, 16/6/2017

--------------------
Giáo dân Cồn Sẻ kéo lên xã đòi bồi thường thỏa đáng

 




Giáo dân thuộc giáo xứ Cồn Sẻ biểu tình phản đối Formosa Hà Tĩnh hôm 7/7/2016. Photo courtesy of tinmungchonguoingheo


(RFA): Chừng 1,000 người là giáo dân Xứ Cồn Sẻ vào sáng ngày 16 tháng 6 cùng linh mục chánh xứ An tôn Nguyễn Thanh Tịnh cùng nhau đến tại trụ sở Ủy ban Nhân dân xã Quảng Lộc, thị xã Ba Đồn, tỉnh Quảng Bình để đòi bồi thường thỏa đáng do thảm họa môi trường mà nhà máy Formosa ở Hà Tĩnh gây nên cho họ.
Một người dân tại Cồn Sẻ vào tối ngày 16 cho biết lý do họ phải tiếp tục đi đòi hỏi quyền lợi vì mức mà địa phương nói sẽ chi trả cho họ thấp hơn nhiều so với mức được chính quyền Trung ương qui định. Cụ thể mức mà người dân kê khai là mỗi đầu người 17 triệu đồng, trong khi đó cơ quan chức năng địa phương nói chỉ chừng 8 triệu đồng nên người dân không đồng ý. Người dân gặp chủ tịch xã Quảng Lộc cũng như thị xã Ba Đồn thế nhưng cả hai vị này vẫn không đáp ứng theo yêu cầu được nêu ra.
Trong khi đó trong ngày 16 tháng 6 tỉnh Quảng Bình báo cáo nói tính đến trung tuần tháng 6 khoản giải ngân bồi thường thiệt hại cho nạn nhân thảm họa môi trường biển do Formosa gây nên đạt hơn 91%. Thông báo từ Hội đồng bồi thường của tỉnh Quảng Bình vào ngày 15 tháng 6 nói rằng 62 trên 65 xã trong toàn tỉnh được phê duyệt bồi thường thiệt hại với tổng số tiền trên 2,200 tỉ đồng; và khoản đã giải ngân là trên 2,100 tỷ đồng, đạt gần 92%.
RFA, 16/6/2017

--------------------
Quân đội Philippines giải cứu con tin người Việt từ Abu Sayyaf

 




Lính Philippines đứng cạnh xác của một trong hai chiến binh Abu Sayyaf đã bị giết chết trong cuộc chạm trán với quân đội ở thị trấn Calape, tỉnh Bohol, miền trung Philippines, ngày 15 tháng 5 năm 2017. AFP Photo


(RFA): Quân đội Philippines vào ngày 16 tháng 6 giải cứu được một thuyền viên người Việt Nam ở Basilan bị phiến quân Abu Sayyaf bắt cóc hồi tháng 11 năm ngoái và giam giữ suốt thời gian qua.
Tuyên bố của quân đội Phi nói rõ, người được cứu là anh Hoang Vo, 28 tuổi, đến từ tỉnh Nghệ An. Anh này là một thuyền viên của chiếc tàu MV Royal 16 bị phiến quân bắt giữ.
Anh Hoang Vo chạy trốn khỏi phiến quân Abu Sayyaf khi quân đội Phi tiến hành không kích và nã pháo vào phiến quân.
Tuyên bố cũng nói khi được giải cứu anh Hoang Vo bị thương ở lưng nhưng hiện đã được chăm sóc y tế nên sức khỏe ổn định.
Hiện chưa rõ cụ thể con số thương vong trong vụ tấn công này nhưng tin cho biết vẫn còn 26 con tin hiện vẫn đang bị Abu Sayyaf giam giữ ở Sulu và Basilan.
RFA, 16/6/2017

--------------------
Phiên xử kín nghi phạm Đoàn Thị Hương

 




Nghi phạm Đoàn Thị Hương bị áp giải tới phiên tòa ngày 1 tháng 3 năm 2017. AFP Photo


(RFA): Các luật sư bào chữa cho hai phụ nữ bị cáo buộc đã giết hại ông Kim Jong Nam, anh trai lãnh tụ Bắc Hàn Kim Jong Un, vừa nhận được những tài liệu quan trọng bao gồm báo cáo khám nghiệm tử thi và báo cáo về chất hóa học sau phiên tòa xử kín diễn ra vào ngày 16 tháng 6 tại nhà tù Kajang ở Malaysia.
Hai người phụ nữ là Siti Aisyah, 25 tuổi, người Indonesia và cô Đoàn Thị Hương, 28 tuổi, mang quốc tịch Việt Nam. Hai người này bị cáo buộc là đã dùng chất độc thần kinh cực mạnh VX để bôi lên mặt của ông Kim JongNam ở sân bay Kuala Lumpur hồi tháng 2 vừa qua. Nếu bị kết án, hai người có thể sẽ phải đối mặt với án tử hình.
Trước đó, các luật sư của hai bị cáo phàn nàn rằng phía công tố viên đã không muốn chia sẻ những tài liệu quan trọng giúp cho công tác bào chữa của họ.
Phía công tố viên Malaysia hôm 16 tháng 6 cho biết họ đã trao cho luật sư của hai người tổng cộng là 44 tài liệu.
Luật sư của cô Siti Aisyah cho biết họ sẽ tìm kiếm sự giúp đỡ của các chuyên gia nước ngoài để đánh giá bằng chứng liên quan tới chất độc thần kinh VX.
Phiên tòa kín hôm 16 tháng 6 là lần xử án thứ 4 đối với hai bị cáo tại Malaysia. Phiên tòa tiếp theo dự định diễn ra vào ngày 28 tháng 7 tới.
RFA, 16/6/2017

--------------------
Giáo sư Phạm Minh Hoàng từ chối lời mời "làm việc"

 




Giáo sư Phạm Minh Hoàng (ở giữa) bị dẫn ra khỏi phòng xử án tại Tòa án nhân dân Saigon, ngày 10 tháng 8 năm 2011. AFP photo


(RFA): Cựu tù nhân lương tâm và giảng viên Phạm Minh Hoàng, người bị chủ tịch nước Trần Đại Quang ký quyết định tước quốc tịch Việt Nam, vào chiều ngày 16 tháng 6 nhận được giấy mời vào ngày 17 tháng 6 đi làm việc với Cục Quản Lý Xuất nhập cảnh, Bộ Công An. Tuy nhiên ông Phạm Minh Hoàng từ chối không đi làm việc vì những lý do được chính ông cho biết: “Tôi phản đối với lý do thứ nhất (thư mời đó) vô giá trị vì họ gửi cho tôi với tư cách một cơ quan công quyền mà chỉ xác nhận tư cách quốc tịch Pháp của tôi thôi; trong khi đó tôi đang làm thủ tục khiếu nại và thủ tục này đang được tiến hành, chưa có câu trả lời mà họ lại ‘ngang nghiên’ nói tôi bị mất quốc tịch rồi. Ngoài ra là vì những lý do kỹ thuật: mời quá gấp rút và không nêu lý do vì sao mời tôi.”
Ông Phạm Minh Hoàng cho biết sau khi nhận được giấy mời đi làm việc như vừa nêu, ông đã thông báo cho phía luật sư cũng nhưng Lãnh sự Pháp. Riêng bản thân ông và gia đình rất lo âu. Vừa qua ông Phạm Minh Hoàng chính thức nhận được bản sao quyết định ký ngày 17 tháng 5 tước quốc tịch Việt Nam của ông do chủ tịch Trần Đại Quang ký. Ông Phạm Minh Hoàng đã làm đơn khiếu nại về vấn đề này và nêu rõ nguyện vọng không ra khỏi nước Việt Nam.
Vào ngày 15 tháng 6, phát ngôn nhân Bộ Ngoại giao Lê thị Thu Hằng trả lời hãng thông tấn Pháp AFP trong cuộc họp báo ở Hà Nội rằng việc tước quốc tịch Việt Nam của ông Phạm Minh Hoàng là do ông này vi phạm pháp luật, xâm phạm an ninh quốc gia. Biện pháp tước quốc tịch là đúng pháp luật Việt Nam. Trong khi đó nhiều luật sư trong nước cho rằng biện pháp tước quốc tịch với người Việt Nam như ông Phạm Minh Hoàng là sai trái.
RFA, 16/6/2017

--------------------
Úc cho nhập tôm bắt ở Úc và chế biến ở Việt Nam

 




Một công nhân Việt Nam làm việc tại một công ty chế biến hải sản tại tỉnh Sóc Trăng, ngày 21 tháng 2 năm 2004. AFP Photo


(RFA): Australia vừa quyết định từ ngày 15 tháng 6 nhận các đơn xin nhập khẩu mặt hàng tôm chưa nấu chín được đánh bắt tự nhiên ở Australia rồi xuất sang Việt Nam chế biến và tái nhập lại Australia.
Đây là thông tin được Bộ Công thương Việt Nam đưa ra hôm 16/6 và được báo chí trong nước loan đi cùng ngày. Trước đó ngày 15/6, Bộ Nông nghiệp và Nguồn nước Australia cho biết đã nhận được văn bản xác nhận về việc có thể đáp ứng các điều kiện nhập khẩu được Australia đưa ra từ Cục quản lý chất lượng Nông lâm sản và Thủy sản của Việt Nam.
Tin cho biết thêm, đối với các quốc gia khác không phải Việt Nam, mặt hàng này chỉ được tái nhập vào Australia khi quốc gia đó bảo đảm đáp ứng điều kiện nhập khẩu mới của Australia.
Xin nhắc lại, ngày 7 tháng giêng vừa qua, Australia đã thực thi lệnh tạm ngừng nhập khẩu tôm và thịt tôm chưa nấu chín trong 6 tháng từ các nước châu Á, trong đó có Việt Nam. Lệnh này đã gây nhiều khó khăn cho ngành xuất khẩu tôm của Việt Nam nói chung. Tuy nhiên gần đây Australia đã gỡ bỏ lệnh cấm với một số mặt hàng tôm và thịt tôm.
RFA, 16/6/2017

--------------------
Quảng Bình giải ngân hơn 90% khoản bồi thường Formosa

 




Cá chết trên bãi biển huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình ngày 20 tháng 4 năm 2016. AFP Photo


(RFA): Tỉnh Quảng Bình báo cáo nói tính đến trung tuần tháng 6 khoản giải ngân bồi thường thiệt hại cho nạn nhân thảm họa môi trường biển do Formosa gây nên đạt hơn 91%.
Thông báo từ Hội đồng bồi thường của tỉnh Quảng Bình vào ngày 15 tháng 6 nói rằng 62 trên 65 xã trong toàn tỉnh được phê duyệt bồi thường thiệt hại với tổng số tiền trên 2200 tỉ đồng; và khoản đã giải ngân là trên 2100 tỷ đồng, đạt gần 92%.
Quảng Bình là một trong 4 tỉnh bắc miền Trung được chính quyền Hà Nội đưa vào danh sách được bồi thường bởi thảm họa môi trường do nhà máy thép Formosa thải hóa chất ra biển vào đầu tháng tư năm ngoái.
Phó thủ tướng Trương Hòa Bình vừa qua ra chỉ thị vào cuối tháng 6 này, công tác chi trả tiền bồi thường cho nạn nhân chịu tác động bởi thảm họa môi trường Formosa phải hoàn tất.
RFA, 16/6/2017